Translator: Phan Văn Minh Quân
Trước khi đi vào các bối cảnh lâm sàng chính, cùng ôn lại dạng sóng áp lực xuất hiện trên màn hình chính sau khi đặt IABP.
Các đặc điểm nào đại diện cho một IABP hoạt động tối ưu? - Bóng được bơm phồng ngay tại thời điểm đóng van động mạch chủ tạo nên mạch dội (dicrotic notch), tạo nên dạng sóng hình chữ V nhọn.
- Độ dốc của sóng tâm trương khuếch đại phải thẳng và song song với đoạn lên của sóng tâm thu trước đó.
- Áp lực tâm trương khuếch đại tại thời điểm xả xẹp bóng phải lớn hơn hoặc bằng áp lực cuối tâm thu.
- Áp lực cuối tâm trương tại thời điểm xả xẹp bóng phải thấp hơn áp lực cuối tâm trương (không được hỗ trợ) trước đó khoảng 15-20 mmHg.
- Áp lực tâm thu (có hỗ trợ, sau một chu kỳ bơm phồng bóng) phải thấp hơn áp lực tâm thu (không được hỗ trợ) trước đó khoảng 5 mmHg.
Ca lâm sàng 1
Q1. Nguyên nhân gây ra tình trạng này? Bóng đối xung được bơm phồng quá muộn, được bơm sau ‘dicrotic notch’ (B).
Q2. Hãy mô tả dạng sóng và các bất thường? - Bóng đối xung được bơm phồng sau ‘dicrotic notch’ (B).
- Biến mất dạng sóng V nhọn tại thời điểm bơm phồng IAB (sự bơm phồng nên diễn ra tại điểm B - ‘dicrotic notch’).
- Áp lực tâm trương khuếch đại (đỉnh C) bé hơn áp lực tâm thu không hỗ trợ (đỉnh A) - lẽ ra C phải lớn hơn A.
Q3. Các tác động sinh lý gây nên bởi tình trạng này là gì? Áp lực tâm trương khuếch đại (đỉnh C) không được tối ưu dẫn đến sự tưới máu vành không đầy đủ.
Q4. Cách khắc phục tình trạng này như thế nào? Điều chỉnh lại thời điểm bơm phồng IAB trên máy (bấm nút ‘earlier’ trên thanh IAB Inflation) tại điểm B - dicrotic notch.
Ca lâm sàng 2
Q1. Nguyên nhân gây ra tình trạng này? Bóng đối xung được xả xẹp quá sớm - lẽ ra cần được xả xẹp ngay trước khi tâm thất co và trước khi bắt đầu thì tâm thu.
Q2. Hãy mô tả dạng sóng và các bất thường? - Sóng áp lực giảm đột ngột ngay sau đỉnh áp lực khuếch đại tâm trương (đỉnh B).
- Áp lực khuếch đại tâm trương có khả năng chưa được tối ưu, rất khó xác nhận thông tin này nếu không có thang đo áp lực để so sánh với đỉnh A.
- Áp lực cuối tâm trương (có hỗ trợ) có thể chưa được tối ưu (điểm C), rất khó để xác nhận nếu chỉ dựa vào hình ảnh được cho ở trên. Hình ảnh sóng U dạng máng (điểm C) là điển hình trong các trường hợp xả xẹp bóng sớm. Sự xả xẹp sớm dẫn đến áp lực cuối tâm trương (có hỗ trợ) lớn hơn hoặc bằng áp lực cuối tâm trương (không hỗ trợ) - điểm F, mặc dù không xuất hiện trong tình huống lâm sàng này.
- Áp lực tâm thu (có hỗ trợ) - đỉnh D, lớn hơn hoặc bằng áp lực tâm thu (không hỗ trợ) - đỉnh A, lẽ ra D nên bé hơn A.
Q3. Các tác động sinh lý gây nên bởi tình trạng này là gì? - Tưới máu vành không đầy đủ, với nguy cơ tạo nên lưu lượng vành phụt ngược do xả bóng quá sớm. Điều này có thể gây nên cơn đau thắt ngực do giảm cung cấp oxy cơ tim.
- Không thể tối ưu hậu gánh dẫn đến tăng nhu cầu oxy cơ tim.
Q4. Cách khắc phục tình trạng này như thế nào? Kéo dài thời gian bơm phồng bóng, để có thể xả xẹp vào cuối thì tâm trương, ngay trước thời điểm khởi đầu giai đoạn co tâm thu đẳng tích.
Ca lâm sàng 3
Q1. Nguyên nhân gây ra tình trạng này? Bóng được bơm phồng quá sớm, diễn ra ngay trước khi đóng van động mạch chủ (chỉ điểm là sự biến mất của ‘dicrotic notch’).
Q2. Hãy mô tả dạng sóng và các bất thường? - Sóng áp lực khuếch đại tâm trương (đỉnh B) lẫn vào áp lực tâm thu không hỗ trợ (đỉnh A), dẫn đến 2 đỉnh có phần hợp nhất và khó phân biệt.
- Không thấy dạng sóng V nhọn và ‘dicrotic notch’ giữa đỉnh A và B.
Q3. Các tác động sinh lý gây nên bởi tình trạng này là gì? - Gây đóng van động mạch chủ sớm và có khả năng gây hở van động mạch chủ, dẫn đến giảm khả năng tống máu thất trái. Điều này biểu hiện bằng sự gia tăng LVEDV (thể tích cuối tâm trương thất trái), LVEDP (áp lực cuối tâm trương thất trái) và PCWP (áp lực mao mạch phổi bít).
- Gây tăng sức căng thành thất trái, tăng hậu gánh và tăng nhu cầu oxy cơ tim.
Q4. Cách khắc phục tình trạng này như thế nào? Làm chậm lại thời điểm bơm phồng bóng (bấm nút ‘later’ trên thanh IAB Inflation), để bóng được bơm ngay tại ‘dicrotic notch’ tạo nên dạng sóng V nhọn.
Ca lâm sàng 4
Q1. Nguyên nhân gây ra tình trạng này? Xả xẹp bóng đối xung quá muộn, diễn ra khi van động mạch chủ đang mở.
Q2. Hãy mô tả dạng sóng và các bất thường? - Sóng khuếch đại tâm trương (đỉnh C) dãn rộng.
- Áp lực cuối tâm trương có hỗ trợ (điểm E) bằng với áp lực cuối tâm trương không hỗ trợ (điểm G), lẽ ra E phải bé hơn G.
- Đường đi lên của sóng áp lực tâm thu có hỗ trợ (từ E đến F) tăng lên chậm và từ từ.
Q3. Các tác động sinh lý gây nên bởi tình trạng này là gì? - Không làm giảm được hậu gánh, thậm chí bóng đang còn phồng làm cản trở khả năng tống máu thất trái và gia tăng hậu gánh.
- Tăng nhu cầu tiêu thụ oxy cơ tim vì thất trái phải trải qua giai đoạn co đẳng tích lâu hơn và phải vượt qua một áp lực trở kháng lớn hơn (hậu gánh).
Q4. Cách khắc phục tình trạng này như thế nào? Rút ngắn thời gian bơm phồng IAB, để bóng được xả xẹp vào cuối thì tâm trương - ngay trước giai đoạn co đẳng tích của thất trái.
Ca lâm sàng 5
Sau một đêm trực “quằn quại” cố gắng tối ưu hóa thời điểm kích hoạt của bóng đối xung, bệnh nhân tiến triển rung nhĩ với ngoại tâm thu thất ngắt quãng.
Q1. Điều này sẽ gây ra những vấn đề gì cho IABP? - Kích hoạt IABP thường được cài đặt theo ECG của bệnh nhân.
- Khi sóng R trên ECG được xác định, IAB sẽ được kích hoạt và tự động bơm phồng vào khoảng giữa thời điểm sóng T.
- Kích hoạt IAB sẽ bị suy giảm nếu bệnh nhân tiến triển rối loạn nhịp, ghi hình ECG kém hoặc có máy tạo nhịp.
Q2. Chúng ta có thể làm gì với tình huống này? - Nếu IAB không thể được kích hoạt khi sử dụng sóng R của ECG, có thể thay thế bằng cách lựa chọn sóng huyết áp động mạch hoặc “pacing spikes”.
- Ngoài ra, bơm bóng đối xung có thể được cài đặt một tần số nội tại nhất định mà không cần phụ thuộc và bất cứ yếu tố sinh lý nào để kích hoạt.
- IABP có thể tự động chuyển mode như là một phương án cứu cánh khi trigger theo ECG thất bại.
- Nếu huyết động bệnh nhân vẫn ổn định dù IABP hoạt động không được tối ưu, có lẽ đây là thời điểm nghĩ về việc rút IABP.
- ...điều trị bất cứ nguyên nhân nào gây rối loạn nhịp cũng là một phương án không tồi.