Update: Aug 18, 2025
Nguyên nhân & Đánh giá
Định nghĩa & Chẩn đoán tăng thân nhiệt
Tăng thân nhiệt là gì?
- Sốt (fever) là tình trạng tăng thân nhiệt do hoạt động của vùng dưới đồi đáp ứng với các cytokine. Các cytokine này có thể được kích hoạt bởi nhiễm khuẩn hoặc tình trạng viêm vô khuẩn.
- Tăng thân nhiệt (hyperthermia) là tình trạng tăng nhiệt độ do sinh nhiệt không kiểm soát được (ví dụ, do tăng hoạt động cơ). Tình trạng này có thể tạo ra nhiệt độ cao hơn so với sốt, với nguy cơ tổn thương mô do nhiệt cao hơn.
- Khác với sốt, tăng thân nhiệt liên quan đến mất hoàn toàn khả năng kiểm soát nhiệt.
Sốt | Tăng thân nhiệt | |
Nhiệt độ | Thường <41C (105.8F) | >41C (105.8F) gợi ý tăng thân nhiệt
>41.5C (106.7) gợi ý mạnh |
Tác dụng của thuốc hạ sốt (vd: acetaminophen) | Hiệu quả | Không hiệu quả |
Đặc điểm vận động | Run (hoặc tiền sử ghi nhận run) | Co cứng hoặc giật cơ có thể gợi ý một số dạng tăng thân nhiệt do thuốc |
Sốc nhiệt
Sốc nhiệt do gắng sức (exertional heat stroke)
- Đại cương:
- Gây ra bởi gắng sức (ví dụ: người chạy marathon, tân binh quân đội, lính cứu hỏa).
- Tình trạng này thường được thúc đẩy bởi thời tiết nóng, nhưng cũng có thể xảy ra trong điều kiện thời tiết mát hơn (tùy thuộc vào trang phục và mức độ gắng sức).
- Chẩn đoán thường được gợi ý dựa trên bệnh sử.
- Biểu hiện lâm sàng:
- [1] Nhiệt độ trung tâm >40°C.
- [2] Rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương (ví dụ: thất điều, chóng mặt, yếu cơ, kích thích, buồn nôn, nôn, co giật).
- [3] Thường có vã mồ hôi nhiều. (38240487)
Sốc nhiệt không do gắng sức (nonexertional heat stroke, còn gọi là sốc nhiệt cổ điển – classic heat stroke)
- Đại cương:
- Xảy ra do không uống nước đầy đủ và thiếu điều hòa trong các đợt nắng nóng.
- Biểu hiện có thể không rõ ràng như sốc nhiệt do gắng sức (cần duy trì mức độ nghi ngờ cao trong các đợt nắng nóng).
- Yếu tố nguy cơ dịch tễ:
- Tuổi cao, thể lực kém, béo phì. (37260431)
- Bệnh lý kèm theo (ví dụ: đái tháo đường, bệnh tim, bệnh hô hấp).
- Suy giảm nhận thức, giảm cảm giác khát, bệnh lý thần kinh và tâm thần.
- Rối loạn sử dụng chất.
- Thuốc làm tăng nguy cơ tăng thân nhiệt và giảm thể tích:
- Thuốc kháng cholinergic (bao gồm thuốc kháng histamine).
- Thuốc chống loạn thần (ảnh hưởng điều hòa nhiệt vùng hạ đồi; có thể gây hội chứng an thần kinh ác tính – NMS).
- Thuốc chẹn beta, thuốc chẹn kênh canxi.
- Thuốc lợi tiểu.
- Thuốc nhuận tràng.
- Lithium.
- Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin (có thể ảnh hưởng điều hòa nhiệt vùng hạ đồi).
- Thuốc cường giao cảm.
- Thuốc tuyến giáp.
- Biểu hiện lâm sàng:
- [1] Nhiệt độ trung tâm >40°C.
- [2] Rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương (ví dụ: hôn mê, sảng, co giật).
- [3] Da thường nóng và khô (nhưng không phải luôn luôn có). (38240487)
Chẩn đoán phân biệt
Sốc nhiệt (xem phần trên)
Nguyên nhân độc chất học
- Tăng thân nhiệt ác tính.
- Hội chứng an thần kinh ác tính.
- Hội chứng serotonin.
- Quá liều thuốc cường giao cảm.
- Ngộ độc salicylate.
- Ngộ độc kháng cholinergic.
- Hội chứng cai GABA-A/B. (35461619)
Bệnh lý hệ thần kinh trung ương
- Viêm màng não hoặc viêm não.
- Bệnh lý vùng hạ đồi (ví dụ: đột quỵ nhồi máu não hoặc xuất huyết).
Bệnh lý nội tiết
- Cơn bão giáp.
- U tủy thượng thận.
- Cơn suy thượng thận cấp.
Nhiễm khuẩn huyết
- Nhiễm khuẩn thường không gây tăng nhiệt độ quá cao, nhưng điều này có thể xảy ra, đặc biệt trong các tình huống sau:
- (a) Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương (viêm màng não/viêm não).
- (b) Nhiễm khuẩn huyết + các yếu tố khác hạn chế mất nhiệt (ví dụ: thuốc kháng cholinergic, phenothiazine).
Tiếp cận lâm sàng với tăng thân nhiệt
[1] Đánh giá
Đánh giá tổn thương cơ quan
- Đường huyết mao mạch ngay lập tức.
- Sinh hóa máu, bao gồm Ca/Mg/Phos.
- Công thức máu toàn bộ.
- Xét nghiệm chức năng gan (tăng thân nhiệt có thể gây suy gan).
- Creatine kinase (tăng thân nhiệt thường gây tiêu cơ vân).
- Xét nghiệm đông máu (tăng thân nhiệt có thể gây DIC).
- Tổng phân tích nước tiểu (“heme” gợi ý tiêu cơ vân; đánh giá nhiễm khuẩn).
Các thăm dò nhằm xác định căn nguyên (nếu chưa rõ)
- Rà soát thuốc, thay đổi thuốc và tương tác thuốc (tập trung vào các thuốc serotonergic).
- Đánh giá nhiễm khuẩn có thể bao gồm:
- Cấy máu, tổng phân tích nước tiểu và cấy nước tiểu.
- X-quang ngực.
- Chọc dịch não tủy.
- CT bụng/chậu.
- TSH (hormone kích thích tuyến giáp), cortisol.
- Chẩn đoán hình ảnh thần kinh (CT scan +/- MRI).
- Nếu nghi ngờ nguyên nhân độc chất học:
- Nồng độ acetaminophen và salicylate.
- Có thể cân nhắc sàng lọc độc chất trong nước tiểu.
[2] Tổng quan về kiểm soát thân nhiệt
Theo dõi
- Lý tưởng là nên theo dõi nhiệt độ trung tâm theo thời gian thực để tránh hạ thân nhiệt quá mức.
- Cách tốt nhất để thực hiện điều này thường là đầu dò thực quản (ở bệnh nhân đã đặt nội khí quản) hoặc đầu dò bàng quang (ở bệnh nhân chưa đặt nội khí quản).
- Có thể theo dõi nhiệt độ trực tràng nếu không có phương tiện nào khác, nhưng phương thức này có thể có xu hướng chậm hơn so với các phương thức đo nhiệt độ khác.
Mục tiêu nhiệt độ
- [#1] Ban đầu, hạ nhiệt độ trung tâm xuống 38°C (100,4°F) càng nhanh càng tốt.
- [#2] Ngừng làm mát chủ động khi nhiệt độ đạt 38–39°C (100,4–102°F) để tránh hạ quá mức.
- [#3] Tiếp tục theo dõi tình trạng mất ổn định nhiệt tiếp diễn (lý tưởng là ít nhất trong 6 giờ).
Làm mát đa mô thức
- Các kỹ thuật dưới đây được khởi động ngay lập tức và sử dụng đồng thời.
- Mỗi kỹ thuật giúp loại bỏ năng lượng nhiệt khỏi cơ thể. Các kỹ thuật này có tác dụng hiệp đồng.
[3] An thần & kiểm soát rét run
Vai trò của an thần
- An thần có thể quan trọng, bất kể bệnh nhân có được đặt nội khí quản hay không.
- Cần tránh tình trạng kích động tiếp diễn:
- Gắng sức có thể làm tăng nguy cơ tiêu cơ vân.
- Hoạt động làm tăng sinh nhiệt, gây cản trở khả năng kiểm soát tăng thân nhiệt.
- Không bao giờ dùng biện pháp cố định cơ học (trói bệnh nhân) để kiểm soát kích động, vì bệnh nhân càng chống cự khi bị cố định thì càng sinh nhiệt nhiều hơn.
Các lựa chọn an thần tiềm năng
- Benzodiazepine:
- Đặc biệt hữu ích trong tăng thân nhiệt do ngộ độc (ví dụ: thuốc cường giao cảm).
- Các đặc tính có lợi bao gồm giãn cơ và chống co giật.
- Ketamine:
- Có thể hữu ích để kiểm soát ngay tình trạng kích động nặng.
- Propofol:
- Hữu ích ở bệnh nhân đã được đặt nội khí quản.
- Ưu điểm bao gồm tác dụng chống co giật và khả năng ngưng an thần để đánh giá lại tình trạng tri giác.
- Opioid:
- Cần điều trị thích hợp các nguồn gây đau (đặc biệt nếu đó là yếu tố thúc đẩy kích động).
- Nếu có khả năng xuất hiện hội chứng serotonin, nên tránh sử dụng fentanyl.
- Dexmedetomidine:
- Có thể cân nhắc ở bệnh nhân chưa đặt nội khí quản, vì có thể chỉnh liều và không ức chế hô hấp.
- Đặc tính ức chế giao cảm có thể hỗ trợ kiểm soát run.
- Khó khởi trị nhanh về mặt hậu cần (nên tránh liều nạp do nguy cơ nhịp chậm).
Ức chế run
- Run sẽ cản trở khả năng điều trị thân nhiệt và phải được kiểm soát trong giai đoạn làm mát cấp tính.
- Ở bệnh nhân đã đặt nội khí quản, có thể gây liệt cơ bằng thuốc giãn cơ không khử cực để kiểm soát run (xem bên dưới).
- Ở bệnh nhân chưa đặt nội khí quản, có thể sử dụng các thuốc sau (có thể cần phối hợp nhiều thuốc):
- Benzodiazepine tĩnh mạch và/hoặc dexmedetomidine tĩnh mạch (tùy thuộc vào dự trữ tri giác của bệnh nhân).
- Fentanyl (nếu không nghi ngờ hội chứng serotonin).
- Truyền ketamine liều giảm đau có một số đặc tính chống run (ví dụ: 0,15–0,3 mg/kg/giờ).
- Magnesium tĩnh mạch.
- Ondansetron tĩnh mạch.
- (Thảo luận thêm về kiểm soát rét run tại đây.)
[4] Đặt NKQ & Kiểm soát sau đặt NKQ
Chỉ định cân nhắc đặt nội khí quản
- [1] Nguyên nhân tăng thân nhiệt chưa rõ, và có thể cân nhắc đặt nội khí quản để tạo điều kiện thực hiện nhanh các thăm dò chẩn đoán cần thiết (ví dụ: chọc dịch não tủy, MRI). Tuy nhiên, một cách tiếp cận khác là làm mát bệnh nhân và đánh giá xem tri giác có cải thiện hay không. Nếu kiểm soát nhiệt độ giúp tri giác trở về bình thường, thì ít nghĩ đến viêm màng não hoặc đột quỵ.
- [2] Tăng trương lực cơ nặng gây cản trở thông khí hoặc kiểm soát thân nhiệt (ví dụ: hội chứng serotonin nặng).
- [3] Trạng thái động kinh: ở bất kỳ bệnh nhân nào có tăng thân nhiệt kèm co giật tái diễn hoặc kéo dài, cách tiếp cận tối ưu thường là đặt nội khí quản ngay để kiểm soát triệt để cả co giật và tăng thân nhiệt. Vấn đề đặt nội khí quản trong điều trị trạng thái động kinh được bàn chi tiết ở phần khác.
- [4] Các chỉ định đặt nội khí quản thường quy khác, như:
- Suy hô hấp tiến triển nặng.
- Kích động kháng trị.
Xử trí sau đặt nội khí quản
- [1] Tiếp tục giãn cơ trong vài giờ cho đến khi kiểm soát được thân nhiệt.
- Giãn cơ sẽ loại bỏ hoàn toàn khả năng sinh nhiệt từ cơ vân, giúp đạt mục tiêu nhiệt độ nhanh hơn.
- Liệt cơ tạm thời thường đạt được bằng cách sử dụng rocuronium khi đặt nội khí quản, sau đó tiêm nhắc lại vecuronium 1–2 liều mỗi 45 phút.
- Trong một số tình huống nặng (ví dụ: hội chứng an thần kinh ác tính), có thể cần truyền liên tục thuốc giãn cơ.
- [2] Điều chỉnh bộ trao đổi nhiệt-ẩm của máy thở:
- Hầu hết các máy thở có bộ trao đổi nhiệt-ẩm (HME, hay gọi tắt là bình làm ẩm), có xu hướng giữ nhiệt trong hệ thống dây thở; có thể tháo ra trong giai đoạn làm mát tích cực.
- Nhiều máy thở có hệ thống làm ấm khí thở (~36°C); nên tạm thời tắt cho đến khi bệnh nhân đạt thân nhiệt bình thường.
- (Sau khi đạt thân nhiệt bình thường, thường trong 1–2 giờ, quay lại cài đặt máy thở như thông thường.)
- [3] Thở khí khô qua cannula mũi với lưu lượng 20–40 L/phút trong vài giờ:
- Việc cung cấp khí khô làm vùng mũi–hầu mất nhiệt thông qua bay hơi.
- (Cơ chế sinh lý và bằng chứng sẽ được trình bày ở phần dưới.)
[5] Làm mát bằng dịch truyền tĩnh mạch & Điều trị tiêu cơ vân
Bệnh nhân tăng thân nhiệt thường bị giảm thể tích. Truyền dịch tinh thể có thể giúp điều trị tăng thân nhiệt, đặc biệt nếu dịch được làm lạnh.
Dịch tinh thể làm lạnh
- Lý tưởng là có sẵn nguồn dịch truyền tĩnh mạch đã được làm lạnh trước (ví dụ: các chai Ringer lactate bảo quản trong tủ lạnh).
- Nếu khoa không có, có thể tìm ở phòng mổ.
- Mỗi lít dịch tinh thể làm lạnh có thể giúp giảm nhiệt độ cơ thể khoảng ~1°C. (22371279, 10969294, 18312676, 23809038, 25348858, 15733765, 25563645, 12505732, 16352954, 24240712)
Dịch tinh thể nhiệt độ phòng
- Nếu không có dịch làm lạnh, cần sử dụng dịch ở nhiệt độ phòng.
- Mỗi lít dịch tinh thể nhiệt độ phòng có thể giúp giảm nhiệt độ cơ thể khoảng ~0,5°C.
- Nhiệt độ cơ thể bệnh nhân khoảng ~40°C, nhiệt độ phòng thường là ~20°C, và tủ lạnh thường là ~5°C. Do đó, chênh lệch nhiệt độ giữa bệnh nhân và môi trường (Δ ≈ 20°C) chỉ bằng khoảng một nửa so với chênh lệch giữa bệnh nhân và dịch làm lạnh (Δ ≈ 35°C).
Xử trí tiêu cơ vân
- Ở bệnh nhân có tiêu cơ vân, cần hướng đến mục tiêu duy trì lượng nước tiểu cao bằng truyền dịch liên tục.
- (Tiêu cơ vân sẽ được bàn chi tiết hơn ở đây.)
[6] Làm mát bề mặt
Bộc lộ hoàn toàn bệnh nhân
- Quần áo cản trở quá trình thoát nhiệt khỏi cơ thể.
- Bất kể sử dụng phương pháp làm mát nào, quần áo đều làm giảm hiệu quả.
- Không phủ bệnh nhân bằng ga trải giường – điều này cũng làm giảm hiệu quả làm mát (đặc biệt với phương pháp làm mát bằng bay hơi).
[Lựa chọn #1/3] Ngâm nước đá toàn thân (immersive ice bath)
- Ngâm nước đá toàn thân là phương pháp làm mát vật lý hiệu quả nhất (tốc độ đạt khoảng ~0,2°C/phút). (31216400)
- Tiêu chuẩn vàng để làm mát nhanh là chuẩn bị một bồn nước chứa đá và để nhiệt độ nước đạt 0°C trước khi cho bệnh nhân vào (ngâm nước đá thực sự). Phương pháp này thường được bố trí tại các giải marathon để sẵn sàng xử trí sốc nhiệt do gắng sức, và hiệu quả rất cao.
- Nước đóng vai trò quan trọng vì giúp tối đa hóa diện tích da của bệnh nhân tiếp xúc với môi trường lạnh. Chỉ đặt đá viên lên cơ thể bệnh nhân sẽ không đạt được hiệu quả này.
- Một số bệnh viện có thể có sẵn bồn ngâm nước đá chuyên dụng tại khoa cấp cứu.
- Đa số bệnh viện không có bồn ngâm nước đá. Các phương pháp thay thế bao gồm:
- [1] Đặt bệnh nhân vào túi đựng thi thể (body bag) và đổ đầy nước và đá vào túi (33000014). Phương pháp này có ưu điểm là đá và túi đều sẵn có ở hầu hết các bệnh viện. Mực nước/đá nên ngang mức đường nách trước của bệnh nhân (38240487).
- [2] Đặt bệnh nhân nằm trên một tấm nhựa, phủ đá lên toàn thân, sau đó bọc kín lại (“kỹ thuật tarp taco”). (31221601)

[Lựa chọn #2/3] Nếu không có bồn ngâm nước đá: làm mát bằng bay hơi
- Xịt nước ấm vừa lên bệnh nhân đã được cởi bỏ quần áo và hướng quạt thổi vào bệnh nhân. Nếu không có bình xịt, có thể dùng bất kỳ dụng cụ nào tạo được các hạt nước mịn (ví dụ: thiết bị phun sương niêm mạc hoặc dụng cụ tương tự dùng để đưa thuốc vào đường thở hoặc mũi).
- Lưu ý nước không nên lạnh (vì sẽ làm giảm mức độ bay hơi).
- Bay hơi có hiệu quả rất tốt trong làm mát cơ thể (khoảng ~0,1°C/phút, tức khoảng một nửa tốc độ của làm mát bằng ngâm nước đá).
- Biện pháp bổ sung:
- (1) Đặt chăn làm mát bên dưới bệnh nhân để tối đa hóa khả năng thoát nhiệt qua mặt sau cơ thể.
- (2) Có thể đặt thêm túi đá, ví dụ ở bẹn, nách và cổ.
- Mất nhiệt qua dẫn truyền nhanh hơn mất nhiệt qua bay hơi. Do đó, các biện pháp bổ sung này sẽ làm tăng tốc độ làm mát. Khi tăng dần lượng túi đá và phủ đá lên bệnh nhân, phương pháp này sẽ dần tương tự như ngâm nước đá toàn thân.
- (Làm mát bằng bay hơi sẽ không hiệu quả nếu độ ẩm môi trường cao, ví dụ >70%; phương pháp này có thể thất bại ở những khu vực không được khử ẩm.)
[Lựa chọn #3/3] Tấm làm mát ngoài da với hệ thống làm mát thích ứng bằng nước (ví dụ: Arctic Sun)
- Đây không phải là kỹ thuật được ưu tiên, vì mục tiêu là hạ nhiệt độ đích của bệnh nhân trong <30–60 phút. Sự chậm trễ khi thiết lập các tấm làm mát ngoài da sẽ khiến mục tiêu này khó đạt được. Hầu hết các bài tổng quan và hướng dẫn thậm chí không đề cập đến kỹ thuật này.
- Nếu sử dụng Arctic Sun, đặt mục tiêu nhiệt độ ban đầu là 33°C để Arctic Sun làm mát bệnh nhân tích cực nhất có thể. Khi nhiệt độ bệnh nhân đạt 38°C, tăng nhiệt độ mục tiêu để tránh hạ thân nhiệt. Có thể cần điều chỉnh các cài đặt để làm mát bệnh nhân nhanh nhất có thể.
Các chủ đề liên quan
Sinh lý của dịch truyền tĩnh mạch làm lạnh
Dược động học của năng lượng nhiệt: dịch truyền làm lạnh tác động trực tiếp lên nhiệt độ trung tâm
- Cơ thể đôi khi được mô hình hóa như một “bể dịch” duy nhất, luôn được trộn đều và do đó có một nhiệt độ đồng nhất. Tuy nhiên, trên thực tế cơ thể không hoạt động như vậy, ví dụ:
- Tồn tại nhiệt độ trung tâm tại các mạch máu lớn và các cơ quan được tưới máu nhiều (ví dụ: tim, não). Đây là yếu tố quan trọng hơn liên quan đến tổn thương cơ quan đích (đặc biệt là tổn thương não).
- Tồn tại nhiệt độ ngoại vi tại các mô tiếp xúc với môi trường (ví dụ: da và mô mềm).
- Các phương pháp làm mát bề mặt loại bỏ nhiệt từ da, với mục tiêu nhiệt độ thấp hơn sẽ dần truyền vào trung tâm. Phương pháp này nhìn chung hiệu quả, nhưng có thể chậm trễ ở bệnh nhân sốc có co mạch ngoại vi (làm chậm trao đổi nhiệt giữa trung tâm và ngoại vi).
- Truyền dịch làm lạnh tác động trực tiếp lên nhiệt độ trung tâm. Do đó, phương pháp này có hiệu quả ngay lập tức, không phụ thuộc vào tình trạng tưới máu ngoại vi.
- Ở bệnh nhân sốc, dịch làm lạnh thậm chí có thể có tác động tương đối mạnh hơn lên các mô trung tâm (đây là điều ta mong muốn).

Tại sao dịch truyền hiệu quả để hạ nhiệt, nhưng lại kém hiệu quả trong làm ấm?
- Một điểm dễ gây nhầm lẫn là:
- Truyền dịch ấm ít hiệu quả trong làm ấm bệnh nhân hạ thân nhiệt.
- Trong khi đó, truyền dịch lạnh lại có hiệu quả vừa phải trong hạ nhiệt bệnh nhân tăng thân nhiệt.
- Tại sao? Hiệu quả của dịch truyền phụ thuộc vào chênh lệch nhiệt độ giữa cơ thể và dịch truyền.
- Hạ thân nhiệt: Nhiệt độ cơ thể khoảng ~32°C, dịch ấm khoảng ~40°C → chênh lệch nhiệt độ ~8°C.
- Tăng thân nhiệt: Nhiệt độ cơ thể khoảng ~44°C, dịch lạnh khoảng ~4°C → chênh lệch nhiệt độ ~40°C.
- Sinh lý học có lợi trong trường hợp này: bệnh nhân càng nóng, dịch làm lạnh càng hiệu quả. Các bằng chứng về hiệu quả của dịch làm lạnh chủ yếu được thu thập trên bệnh nhân có nhiệt độ ban đầu bình thường, do đó trong tăng thân nhiệt, hiệu quả của dịch lạnh thậm chí có thể còn cao hơn.
Cơ sở bằng chứng của dịch làm lạnh
- Dịch làm lạnh chưa được nghiên cứu trực tiếp trong tăng thân nhiệt. Tuy nhiên, cơ chế sinh lý và hiệu quả của dịch tinh thể làm lạnh đã được xác lập rõ trong nhiều bối cảnh khác nhau (y học tiền viện, gây mê hồi sức, và hồi sức thần kinh).
- Nhiều nghiên cứu cho thấy dịch tinh thể làm lạnh (0–4°C) có thể làm giảm nhiệt độ trung tâm khoảng ~1°C cho mỗi lít (tức khoảng ~2°C khi truyền 30–40 mL/kg) (22371279, 10969294, 18312676, 23809038, 25348858, 15733765, 25563645, 12505732, 16352954). Điều này hiện đã được chứng minh rất vững chắc, bao gồm cả trong các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng quy mô lớn (24240712).
Làm mát hô hấp bằng khí khô
Các điểm cần lưu ý của phần này
- (1) Hiện chưa có nhiều bằng chứng ủng hộ các biện pháp này.
- (2) Các kỹ thuật này chỉ nên sử dụng trong thời gian ngắn (ví dụ: 1–3 giờ) nhằm giúp hạ nhiệt độ từ mức nguy hiểm cấp tính.
- (3) Đây chỉ là các biện pháp hỗ trợ (không phải là phương pháp chính để làm mát).
Sinh lý học của làm mát qua đường hô hấp
- Cơ chế chính là làm mát bằng bay hơi.
- Không khí khô được cung cấp vào đường hô hấp (qua mũi hoặc vào phổi). (27635468)
- Hơi nước sẽ bay hơi từ đường hô hấp. Quá trình bay hơi này mang nhiệt ra khỏi cơ thể (tương tự như cơ chế làm mát bay hơi trên bề mặt da).
- Làm mát qua đường hô hấp chỉ có thể duy trì trong thời gian ngắn do gây khô niêm mạc mũi (khi dùng cannula mũi) hoặc làm dịch tiết trở nên đặc quánh (khi dùng máy thở).
Khí khô lưu lượng cao qua cannula mũi
- Cách đơn giản nhất để làm mát qua đường hô hấp là cung cấp khí khô với lưu lượng tương đối cao (20–40 L/phút) qua cannula mũi.
- Không sử dụng oxy, vì sẽ cung cấp lượng oxy quá mức, có thể dẫn đến tăng oxy máu.
- Hạn chế:
- (i) Bệnh nhân phải duy trì được độ bão hòa oxy thích hợp khi thở khí trời (không bị suy hô hấp giảm oxy máu). Với những bệnh nhân cần bổ sung oxy, về lý thuyết có thể phối trộn khí trời và oxy bằng cách kết hợp hai nguồn lưu lượng kế, nhưng việc này có thể phức tạp.
- (ii) Do khí không được làm ấm hoặc làm ẩm, phương pháp này kém thoải mái hơn so với hệ thống cannula mũi lưu lượng cao tiêu chuẩn. Có thể cần giảm lưu lượng để bệnh nhân dung nạp.
- Cách thực hiện:
- Lý tưởng là sử dụng lưu lượng kế công suất cao gắn với cổng lưu lượng (lỗ air). Điều chỉnh lưu lượng khoảng ~40 L/phút (có thể giảm nếu bệnh nhân không dung nạp).
- Nếu không có lưu lượng kế công suất cao, có thể dùng lưu lượng kế thông thường: chỉnh lên 15 L/phút và tăng thêm một chút để đạt khoảng 20–40 L/phút.

Khí khô lưu lượng cao qua CPAP mũi
- Một cách khác để cung cấp khí khô ở lưu lượng cao là sử dụng CPAP mũi. (30919302, 30359664)
- Ưu điểm của phương pháp này là cho phép điều chỉnh FiO₂ (ở bệnh nhân suy hô hấp và cần bổ sung oxy ở một mức độ nào đó).
- Cách thực hiện:
- Tắt chức năng làm ẩm khí.
- Tăng dần áp lực CPAP để đạt lưu lượng khoảng ~20–40 L/phút (giữ áp lực dưới 20 cmH₂O).
Bệnh nhân đã đặt nội khí quản: vẫn có thể dùng khí khô!
- Dùng khí khô qua mũi có tác dụng nhờ làm mát bay hơi tại các cuốn mũi, không phải tại phổi.
- Phương pháp này đã được chứng minh là vẫn hiệu quả ngay cả ở bệnh nhân đã đặt nội khí quản (30359664). Các kỹ thuật sử dụng hoàn toàn giống như trên (ở bệnh nhân chưa đặt nội khí quản).
Tài liệu tham khảo
- 31216400 Epstein Y, Yanovich R. Heatstroke. N Engl J Med. 2019 Jun 20;380(25):2449-2459. doi: 10.1056/NEJMra1810762 [PubMed]
- 31221601 Lipman GS, Gaudio FG, Eifling KP, Ellis MA, Otten EM, Grissom CK. Wilderness Medical Society Clinical Practice Guidelines for the Prevention and Treatment of Heat Illness: 2019 Update. Wilderness Environ Med. 2019 Dec;30(4S):S33-S46. doi: 10.1016/j.wem.2018.10.004 [PubMed]
- 33000014 Kim DA, Lindquist BD, Shen SH, Wagner AM, Lipman GS. A body bag can save your life: a novel method of cold water immersion for heat stroke treatment. J Am Coll Emerg Physicians Open. 2020 Jan 8;1(1):49-52. doi: 10.1002/emp2.12007 [PubMed]
- 33856299 Rublee C, Dresser C, Giudice C, Lemery J, Sorensen C. Evidence-Based Heatstroke Management in the Emergency Department. West J Emerg Med. 2021 Feb 26;22(2):186-195. doi: 10.5811/westjem.2020.11.49007 [PubMed]
- 36170473 Sorensen C, Hess J. Treatment and Prevention of Heat-Related Illness. N Engl J Med. 2022 Oct 13;387(15):1404-1413. doi: 10.1056/NEJMcp2210623 [PubMed]
- 37260431 Patel J, Boyer N, Mensah K, Haider S, Gibson O, Martin D, Walter E. Critical illness aspects of heatstroke: A hot topic. J Intensive Care Soc. 2023 May;24(2):206-214. doi: 10.1177/17511437221148922 [PubMed]
- 38240487 Barletta JF, Palmieri TL, Toomey SA, Harrod CG, Murthy S, Bailey H. Management of Heat-Related Illness and Injury in the ICU: A Concise Definitive Review. Crit Care Med. 2024 Mar 1;52(3):362-375. doi: 10.1097/CCM.0000000000006170 [PubMed]

